Tiếng Gõ Trong Đêm Lam GiangChương 01: Tiếng Gõ Trên Bến Đò Lam Giang
Đầu tác phẩm

Chương 1

Chương 01: Tiếng Gõ Trên Bến Đò Lam Giang

Tiếng Gõ Trong Đêm Lam GiangKhoảng 8 phút đọc

TIẾNG GÕ TRONG ĐÊM LAM GIANG

CHƯƠNG 1: VẾT NỨT BẾN LẠC HÀ

Tác giả: Mọt Sách Studio


Mùi gỗ dổi mới cưa ngai ngái, hăng nồng xộc thẳng vào sống mũi, quyện chặt với mùi bùn thối rữa của bãi bồi Lam Giang lúc nửa đêm tạo thành một thứ tử khí đặc quánh.

Ngọn đèn dầu hỏa chụp thủy tinh ám khói đặt trên đầu một hòm đồ nghề bằng gỗ nghiến. Ánh lửa hạt đỗ đỏ quạch, chập chờn theo từng cơn gió bấc lùa qua kẽ liếp nứa, hắt bóng Trần Bách dài ngoằng lên vách thuyền bè, gập ghềnh như một cái bóng bị bẻ gãy khớp xương.

Bách cúi gập lưng trên cỗ quan tài chưa ráp mộng. Bàn tay phải của anh sần sùi, khớp ngón tay to bè như rễ đước, gân mu bàn tay nổi chằng chịt bọc lấy vết sẹo dài màu tím tái chạy tuốt từ cổ tay xuống kẽ ngón trỏ. Chiếc đục thép bản hai phân trong tay anh vừa chạm vào thớ gỗ đã phát ra một tiếng khấc khô khốc, trượt đi một đường chệch khỏi đường mực tàu vừa búng.

Lưỡi đục cắn vào một mắt gỗ kỳ dị.

Thớ gỗ dổi già màu vàng sáp ong, nhưng ngay chính giữa tấm ván thành bên hữu lại lồi lên một cục mắt gỗ đen nhánh, tròn xoe, vân gỗ xoắn xuýt xung quanh tựa như một con ngươi người chết trừng trừng nhìn ngược lên từ lòng ván. Bách ghì chặt cán đục, dùng cả sức nặng của bả vai tì xuống. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán, chảy dọc sống mũi rồi đọng lại nơi khóe môi một giọt mặn chát. Dạ dày anh co thắt từng cơn cồn cào, buốt nhói như có mảnh sành cứa vào ruột gan.

Gió từ mặt sông Lam Giang thổi thốc vào. Mặt nước tháng Mười Một lạnh buốt như ngâm lưỡi dao cạo, đập bập bõm vào những cọc cừ đóng quanh bè gỗ. Đêm đông dài dằng dặc, sương muối buông xuống mặt sông dày đặc như rắc vôi bột, khiến ngọn sào cắm ngoài doi cát cũng chỉ còn là một vệt đen mờ căm căm.

Chiếc đục lại rít lên. Từng dăm bào mỏng tanh, quăn queo như xác sâu đo rơi lả tả xuống sàn thuyền, phủ trắng đôi giày vải bộ đội rách mõm của Bách. Đêm đã sang canh hai. Ở xóm Vạn Chài bến Lạc Hà này, chẳng ai còn thức vào cái giờ mà sương muối bắt đầu buông dày như rắc vôi bột. Chỉ có Bách. Anh nhận món tiền cọc ba đồng bạc trắng từ tay cụ Giáo Ngạn chập tối hôm qua, kèm theo một lời dặn cộc lốc: trước khi tiếng gà gáy đầu bến cất lên, cỗ hậu sự này phải xong xuôi phần mộng ngàm và ráp kín bốn góc, tuyệt đối không được để hở dù chỉ một kẽ nhét vừa sợi tóc.

"Đóng cho ai thế cụ?" — lúc chiều Bách hỏi, ngón tay miết chặt ba đồng bạc lạnh tanh.

Cụ Giáo Ngạn chỉ quẹt ngang bãi bọt trầu đỏ lòm vào gấu áo củ nâu, con mắt chột mờ đục như hạt nhãn thối giần giật dưới mí mắt sụp:

"Đóng cho kẻ dưới sông lên nhận họ chứ ai nữa. Đừng hỏi thừa làm gì nhé. Mày là thợ đục, ăn tiền dăm gỗ thì mắt chỉ nhìn mũi đục thôi, chớ có nhìn sang mặt nước làm chi."

Bách khựng lại. Lời dặn ấy như một chiếc đinh gỉ đóng đinh vào màng tang anh suốt bốn tiếng đồng hồ qua.

Bách buông đục xuống mặt bàn gỗ. Tiếng kim loại va chạm với mặt gỗ nghiến vang lên một tiếng keng chói gắt giữa đêm tĩnh mịch, rồi chìm nghỉm giữa tiếng nước chảy xiết cuồn cuộn dưới lườn thuyền. Anh thọc tay vào túi áo bông cũ, ngón tay run rẩy bóp nát mẩu sáp trám thuyền nặn tròn vo trong túi. Mùi nhựa thông và dầu trẩu ngai ngái dính dớp bám vào kẽ móng tay giúp anh kéo giật lại chút tri giác đang bồng bềnh trôi dạt. Mười lăm năm trốn chui trốn lủi nơi miệt rừng xa xôi, anh tưởng mình đã quên hẳn tiếng nước sông Lam. Nhưng chiều hôm kia, khi bước chân vừa chạm xuống bãi cát lở bến Lạc Hà, tiếng róc rách của bùn nhão dưới gót chân đã kéo anh về đúng cái đêm mùa lũ năm ấy. Cái đêm mà chiếc đò ngang của anh họ Bách chìm nghỉm giữa xoáy nước Ngã Ba Vạc, còn bàn tay Bách thì buông lỏng đầu dây thừng.

Ký ức ùa về như một vết dao cứa vào lòng tự ái vụn vỡ. Mười lăm năm nay, đêm nào người cha già ở quê cũng để ngỏ then cửa chờ người biết đường quay về, nhưng Bách chỉ biết chối bỏ, lầm lì nhìn vào khoảng tối mịt mùng ngoài bến sông. Anh nhớ chiếc bát mẻ sứt cạnh đựng củ khoai bẻ đôi mà hai anh em từng chia nhau trong những chiều đông rét mướt. Khi người anh họ bị nước cuốn đi, tiếng kêu cứu nghẹn lại nơi cuống họng đã biến thành một bản án lương tâm câm lặng không một lời oán trách, găm chặt vào số phận anh suốt nửa đời phiêu bạt.

Cộp.

Một âm thanh vang lên bất ngờ.

Bách đứng sững, lưng cứng đờ như một khối đá tảng.

Âm thanh đó không phát ra từ trên vách nứa, cũng không phải tiếng chuột cống rúc chân sào. Nó vang lên từ phía dưới, trầm đục, khô khốc và đều đặn, như có ai đó dùng chuôi gỗ gõ ngược lên mặt sàn ván thuyền.

Cộp. Cộp.

Hai nhịp tiếp theo gõ dứt khoát, cách nhau đúng một khoảng bằng một hơi thở ngắn.

Bách nín thở, tròng mắt dán chặt xuống khe hở giữa hai tấm ván sàn dưới chân. Khe ván rộng chừng nửa đốt ngón tay, đen ngòm, bên dưới là dòng nước Lam Giang lững lờ trôi trong bóng tối thăm thẳm. Nước sông đang mùa kiệt, đáy thuyền cách mặt bùn chỉ chừng vài thước cắm sào. Những con cá trê mắt mù hay cá ngạnh ngầm thỉnh thoảng vẫn quẫy đuôi đập vào mạn thuyền tạo nên những tiếng bộp bộp nhớp nháp, nhưng chưa bao giờ là tiếng cộp rắn đanh của gỗ va vào gỗ thế này.

Bách bước lùi lại nửa bước. Đôi giày vải giẫm lên đống dăm bào phát ra tiếng lạo xạo khô khốc.

Tiếng gõ ngừng bặt.

Không gian lại chìm vào sự im lặng nghẹt thở. Chỉ còn tiếng bấc đèn cháy xèo xèo và tiếng gió rít qua những bụi lau sậy ngoài bãi bồi nghe như tiếng người thở dốc qua kẽ răng.

Bách lắc mạnh đầu, tự nhủ rằng đó chỉ là ảo giác do chứng thiếu ngủ kéo dài. Anh cúi xuống nhặt chiếc vồ gỗ lên, chuẩn bị đóng chốt mộng đầu tiên cho tấm ván thiên. Nhưng khi vừa cúi người, mắt anh chợt bắt gặp một chi tiết kỳ lạ nơi thành ván áo quan.

Mắt gỗ đen nhánh ban nãy đang rịn ra một vệt nước mỏng.

Giữa đêm đông lạnh buốt, thớ gỗ dổi khô kiệt lưu kho ba năm bỗng dưng ứa nước. Giọt nước không trong suốt mà mang màu vàng đục của phù sa ngâm lâu ngày, rỉ từ tâm mắt gỗ, chảy chầm chậm thành một đường dài xuống đáy quan tài.

Bách lùi hẳn lại mép cửa bè, bàn tay quờ quạng vớ lấy cây sào tre dựng ở góc cột. Anh đẩy nhẹ cánh cửa liếp, bước ra sàn ngoài mạn thuyền.

Gió lạnh quất thẳng vào mặt khiến từng chân lông rát buốt. Sương mù trên sông Lam Giang dày đặc như một tấm màn tang buông kín trời đất. Mặt nước phẳng lặng như gương, chỉ có những quầng sáng lờ mờ hắt ra từ ngọn đèn le lói ở đền Vạn Chài phía mũi cồn cát.

Bách rọi ngọn đèn bão cầm tay xuống mép nước sát mạn thuyền. Dòng nước xanh thẫm, lững lờ cuốn theo những đám bèo tây dập dềnh. Dây thừng chão buộc cọc neo căng cứng, rung bần bật dưới sức đẩy của con nước xiết. Nhưng ngay cạnh chiếc cọc neo thứ ba, một vật thể nổi bồng bềnh trên mặt nước khiến Bách chết trân tại chỗ.

Đó là một chiếc nón mê rách mép, nan tre gãy gập trơ cả xương. Chiếc nón không trôi xuôi theo dòng chảy cuồn cuộn của Lam Giang, mà đứng yên bất động ngược dòng nước, mũi nón chĩa thẳng vào mạn thuyền của Bách. Nơi chóp nón, một dải vải điều nhuộm đỏ đã ố đen vì ngấm nước bùn đang ngoằn ngoèo trôi nổi như một dải máu đông.

Dải vải đỏ của kẻ bị kết tội trôi sông. Mười lăm năm trước, chính tay cụ thủ từ đời trước đã buộc dải vải này vào chiếc đò đắm trước khi thả trôi xác theo dòng nước lũ.

"Bách đấy à con?"

Một giọng nói the thé, đục ngầu vang lên ngay sát bên tai, cắt đứt sự tĩnh mịch đặc quánh.

Bách giật thót mình, lòng bàn tay bóp chặt quai đèn sắt han gỉ nghe rát rạt.

Từ trong màn sương mù xám xịt cách mũi thuyền chưa đầy hai sải tay, một chiếc thuyền nan mũi nhọn lù lù tiến tới không một tiếng khua mái chèo. Cụ Giáo Ngạn ngồi thu lu ở mũi thuyền, chiếc khăn rằn nhuộm củ nâu quấn chặt kín cổ, chiếc áo tơi lá tơi tả đẫm sương muối. Con mắt chột của cụ dưới ánh đèn bão ánh lên một tia sáng xanh xám lạnh lẽo.

"Cụ.. cụ Giáo đấy ư?" Bách thở dốc một hơi cay xè, cuống họng khô rát như phải bỏng. "Đêm hôm thế này mà cụ còn chèo đò ra bến lở làm chi vậy cà?"

Hết tác phẩm