Gió biển Đông cuồn cuộn thổi thốc qua đỉnh Hải Vân Quan, cuốn theo từng đợt mây mù lạnh buốt phủ kín con đường thiên lý Bắc Nam cheo leo giữa lưng chừng trời. Phía đông là vực sâu hun hút với những đợt sóng bạc đầu gầm gào đập vào chân đá nhọn hoắt tạo thành bọt nước trắng xóa; phía tây là đại ngàn Trường Sơn sừng sững trùng điệp ẩn hiện dưới làn sương lam mờ ảo. Nơi đây từ ngàn xưa đã được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan", ranh giới hiểm trở phân chia đất trời, nơi chứng kiến biết bao cuộc binh đao phong hỏa và ân oán giang hồ chìm nổi qua các triều đại. Đêm nay, gió bấc từ phương Bắc tràn về sớm hơn lệ thường, mang theo hơi sương muối buốt giá đóng thành từng lớp băng mỏng trên những phiến đá thành cổ rêu phong.
Dưới ánh trăng rằm vằng vặc chiếu sáng bờ thành đá cổ, bóng một người đàn ông áo xám ngồi xếp bằng trên mỏm đá nhô ra bờ vực sâu thăm thẳm.
Người đó chừng ba mươi tuổi, vóc dáng cao ráo phong trần, mái tóc đen dày cột lỏng bằng một dải lụa xanh thẫm bay phần phật trong gió biển buốt giá. Khuôn mặt chàng góc cạnh như tạc bằng đá hoa cương, đôi lông mày kiếm rậm rạp hơi nhíu lại, đôi mắt sâu thẳm ẩn chứa nét bi tráng trầm mặc của một người đã từng đi qua vạn dặm đao kiếm máu chảy đầu rơi. Trên đầu gối chàng đặt ngang một thanh trường kiếm bọc trong bao da cá đuối màu đen tuyền — vỏ kiếm không hề chạm trổ hoa văn vàng bạc cầu kỳ, nhưng từ chuôi kiếm đúc bằng đồng cổ toát ra một luồng kiếm khí lạnh thấu xương, làm những hạt sương đêm rơi xuống gần mũi kiếm đều ngưng kết thành những hạt băng li ti rơi lộp bộp xuống mặt đá.
Lê Nhất Kiếm — người từng làm rung chuyển võ lâm Cửu Châu mười năm trước với tuyệt kỹ Bạch Hạc Kiếm Pháp thất truyền.
Mười năm trước, sư môn của chàng — môn phái Bạch Hạc Kiếm danh trấn đỉnh Bà Nà — bị các thế lực ma giáo Tây Vực câu kết với bè lũ quan lại gian thần trong triều đình mưu sát tiêu diệt trong một đêm giông bão tơi bời. Sư phụ chàng — Kiếm tông Trương Lăng Vân, bậc tông sư võ học đức cao vọng trọng — đã kiên quyết từ chối ký tên vào bản huyết thư quy thuận lũ gian thần bán nước hại dân. Hậu quả là trong một đêm mưa gió sấm sét xé trời, ba trăm cao thủ hắc đạo cùng ngự lâm quân tạo phản đã vây kín đỉnh núi. Cả môn phái hơn một trăm ba mươi nhân mạng nhuộm đỏ sàn đá hoa cương, máu chảy thành suối hòa vào dòng thác nước cuồn cuộn.
Trong giây phút sinh tử định mệnh ấy, sư phụ chàng cả người trúng mười bảy nhát đao kiếm, vẫn dùng chút tàn lực cuối cùng kích hoạt cơ quan bí mật đưa Nhất Kiếm — đệ tử chân truyền duy nhất khi đó mới hai mươi tuổi — xuống mật đạo dưới chân thác nước thoát nạn. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, bàn tay đẫm máu của người nắm chặt lấy vạt áo chàng, trăng trối bằng ánh mắt rực lửa: "Nhất Kiếm. Kiếm đạo của Bạch Hạc ta là kiếm của chính nghĩa, kiếm của trời đất non sông! Sống không thẹn với lương tâm, chết không cúi đầu trước bạo quyền! Hãy sống. rèn kiếm mười năm. giữ lấy chữ Hiệp cho cõi đời!".
Mười năm qua, chàng ẩn danh nơi góc bể chân trời, náu mình trong những hang đá hoang vu trên đỉnh Ngũ Hành Sơn. Ngày ngày, chàng lấy tiếng sóng biển cuộn trào làm bạn, lấy ngọn gió bấc rít qua khe đá để luyện kiếm. Chàng đã vung kiếm hơn ba triệu lần: từ khi cổ tay tê dại rỉ máu cho đến khi thanh kiếm trở thành một phần của xương tủy, tôi rèn tâm tính qua từng mùa đông giá rét cho đến khi đạt tới cảnh giới tối cao: "Tâm kiếm hợp nhất, vô chiêu thắng hữu chiêu, kiếm chưa rời vỏ mà ý kiếm đã bao trùm càn khôn". Nhất Kiếm đã tự tay rèn thanh Hạc Minh Kiếm này từ một khối thiên thạch hắc thiết vớt được dưới đáy vực biển sâu, tôi rèn trong dòng nước suối nguồn băng giá để tạo nên một lưỡi kiếm sắc bén vô song có thể chém sắt như chém bùn.
Đêm nay, chàng chọn đỉnh đèo Hải Vân hiểm trở này để làm nơi giải quyết dứt điểm nợ máu ân oán giang hồ suốt mười năm ròng rã.
"Xào xạc. vút!"
Một tiếng xé gió cực kỳ nhỏ bé lẫn trong tiếng gió biển gầm rú bất chợt vang lên từ phía rừng trúc rậm rạp bên sườn đèo phía bắc. Tiếp theo đó là mùi tanh tưởi của nọc độc hoa cà và hơi thở lạnh lẽo của những kẻ quen nghề sát nhân giấu mình trong bóng tối.
Nhất Kiếm không hề nhúc nhích mí mắt. Tay phải chàng vẫn thong thả nâng bầu rượu hồ lô nung bằng gốm mộc Bát Tràng, nghiêng đầu nhấp một ngụm rượu nếp cái hoa vàng cay nồng ấm áp. Vị cay ngọt đượm hương lúa mới chảy qua cổ họng, sưởi ấm lồng ngực chàng giữa đêm đông buốt giá.
— Bằng hữu phương xa đã lặn lội vượt ngàn dặm gió rét từ kinh thành đến tận Hải Vân Quan này, cớ sao còn nấp trong bóng tối làm gì cho nhọc thân? Mau ra đây uống một chén rượu giang hồ cho ấm bụng rồi hãy rút đao! — Nhất Kiếm cất giọng trầm ấm, âm thanh phát ra không lớn nhưng ẩn chứa nội lực thuần dương thâm hậu vô song, xuyên qua tiếng sóng gầm truyền thẳng vào từng lùm cây hốc đá cách xa trăm trượng.
"Ha ha ha! Khá cho một tên dư nghiệt họ Lê! Đã đến ngày đền tội mà vẫn còn nhã hứng uống rượu ngắm trăng!"
Một tràng cười the thé chói tai như tiếng cú kêu đêm vang lên xé rách màn sương. Từ trong làn mây mù dày đặc, mười hai bóng đen mặc áo choàng da chồn đen kịt, mặt đeo mặt nạ quỷ dạ xoa đồng loạt phi thân nhảy vọt ra, tạo thành thế trận bao vây hình bán nguyệt khóa chặt mọi lối thoát của mỏm đá chênh vênh.
Kẻ dẫn đầu là một gã đàn ông to lớn như hộ pháp, tay cầm đôi đoản đao răng cưa phát ra ánh sáng màu xanh lục ma quái của nọc độc mãng xà ngàn năm. Đó chính là Hắc Diện Ma Quân Tào Vô Kỵ — thống lĩnh Hắc Sát Đoàn, cánh tay phải đắc lực của gian thần Thừa tướng.
— Lê Nhất Kiếm, Thừa tướng có lệnh dụ: Nếu ngươi chịu giao nộp pho Bạch Hạc Kiếm Phổ và quỳ gối quy thuận dưới trướng triều đình, người sẽ phong ngươi làm Đô Thống Ngự Lâm Quân, ban cho phủ đệ ngàn gian, hưởng vinh hoa phú quý muôn đời. Bằng không, đỉnh Hải Vân này đêm nay sẽ là nấm mồ chôn xác không có ai nhặt xương của ngươi! — Tên thủ lĩnh áo đen gầm gừ, đôi mắt sau lớp mặt nạ quỷ ánh lên tia nhìn khát máu tàn bạo.
Nhất Kiếm chậm rãi đậy nắp chiếc bầu rượu hồ lô lại, giắt cẩn thận bên hông áo xám. Chàng đứng thẳng dậy trên mỏm đá chênh vênh mép vực sâu. Ánh trăng rọi vào thanh kiếm bọc da cá đuối trên tay chàng, phát ra những tia sáng bạc lấp lánh như sương tuyết mùa đông.
Chàng nhìn mười hai tên sát thủ quỷ diện, ánh mắt bình thản như nước hồ mùa thu, nhưng bên trong đáy mắt lại cuộn trào một khí phách hào hùng lẫm liệt của bậc đại trượng phu:
— Vinh hoa phú quý xây trên xương máu của đồng bào và sự phản bội sư môn, đối với Lê Nhất Kiếm này chỉ là một đống bùn nhơ nhớp không đáng một xu! Mười năm trước, sư phụ ta dạy rằng: Người luyện kiếm cầm vũ khí trong tay là để trảm gian trừ bạo, phò trợ kẻ yếu thế, giữ gìn một chữ Hiệp chân chính cho cõi nhân gian. Một thanh bảo kiếm chân chính thà gãy giữa trận tiền chứ tuyệt đối không bao giờ làm nô bộc cho lũ nghịch tặc hại nước thương dân! Hôm nay, các ngươi đã tự tìm đến tận đây, vừa hay để thanh Hạc Minh Kiếm này của ta uống máu bọn ác tặc, tế lễ vong linh trăm anh linh Bạch Hạc Môn đã khuất!
Chàng nâng tay trái lên, đầu ngón tay khẽ búng nhẹ vào chuôi kiếm. Một âm thanh "ong. ong." trầm hùng vang lên, làm tan biến toàn bộ làn sương mù trong phạm vi mười trượng, để lộ ra ánh trăng bạc lạnh ngắt chiếu thẳng vào đôi mắt sáng quắc của người hiệp khách. Khí thế bễ nghễ thiên hạ của chàng bộc phát ra khiến mười hai tên sát thủ dạn dày huyết chiến bất giác phải rùng mình lùi lại nửa bước!